Tìm hiểu lòng tự trọng bản thân

– Tìm hiểu những gì độc đáo ở từng đứa trẻ và đôi khi cần nhắc đến điều đó khi có sự hiện diện của chúng ở đó. Đánh giá cao cố gắng cũng như thành công của trẻ, giúp chúng chấp nhận những thiếu sót của mình bằng cách tự phân tích thành công và thất bại của bản thân;
long_tu_trong
Bạn có thể chưa thử một thử nghiệm đơn giản để biết đứa trẻ đã được giáo dục đến mức nào nếu bạn rơi vào hoàn cảnh như tôi. Đứa cháu gái họ đưa con đến nhà tôi vào một sáng chủ nhật. Để đứa con 4 tuổi lại chơi với mấy đứa trẻ khác, cô cháu gái ra giúp người nhà chuẩn bị bữa trưa.

Cậu bé dường như không muốn ở lại với người khác mà nằng nặc theo mẹ. Tôi cố gắng thuyết phục cu cậu rằng bé lớn rồi phải độc lập, phải để mẹ đi nấu ăn và đề nghị những trẻ khác mời bạn vào chơi cùng. Mọi nỗ lực đều không mang lại kết quả. Tôi quyết dùng cái gương thật lớn để trước mặt để cậu nhìn thấy khuôn xấu xí của mình khi đang khóc với hy vọng giúp cậu nhìn thấy hình ảnh không đẹp của mình mà dừng khóc.

Cậu bé dừng lại một chút và sau vài giây cậu lại tiếp tục giai điệu cũ to hơn. Tôi quyết định gọi tên mẹ cậu và đề nghị mọi người mang giúp roi ra để hỏi tội mẹ cậu. Cậu bé dừng khóc ngay lập tức như thể chưa có chuyện gì đã xảy ra. Bạn có thể giúp lý giải tình huống này không và làm thế nào để cậu bé quan tâm đến hình ảnh của chính mình?

Vài lời bình luận

Trẻ em bắt đầu nhận ra mình khi còn rất nhỏ, trên 20 tháng tuổi. Nhưng chúng thật sự quan tâm tới hình thảnh bản thân sau 3 tuổi. Trường hợp cậu bé 4 tuổi này không quan tâm tới khuôn mặt xấu xí xủa mình khi đang khóc là kết quả của sự xã hội hóa trong gia đình.

Người nhà đứa trẻ đã không đề cao hình ảnh của đưa trẻ trước mắt người khác, không giúp trẻ ý thức được hình ảnh của nó là quan trọng trước mặt người khác, tức là giúp nó hình thành lòng tự trọng. Thay vì làm chuyện này, mẹ cậu bé củng cố mối quan hệ giữa sự xuất hiện của mình với việc đáp ứng nhu cầu sinh học của con.

Ở đứa trẻ dần dần hình thành và củng cố quan niệm rằng mẹ là nguồn đáp ứng nhu cầu này của trẻ. Do vậy, khi có nguy cơ đe dọa sự đáp ứng nhu cầu này, đứa trẻ dừng hành vi “quấy rối”. Để xử lý tình huống này một cách bền vững, người mẹ cần hình lòng tự trọng ở trẻ, thay vì đáp ứng vô điều kiện mọi nhu cầu sinh học, cần hình thành ở chúng nhu cầu được tôn trọng.

Nhu cầu tự trọng là nhu cầu được thấy giá trị và tầm quan trọng của bản thân, có bản lĩnh để tự chịu trách nhiệm với bản thân và chịu trách nhiệm với người khác (Reasoner, 1982).

Thành tố thứ nhất của lòng tự trọng là sự nhận thức ý nghĩa, giá trị vốn có và tầm quan trọng của bản thân như một con người, từ đó có mong muốn học tập, phát triển để lòng tự trọng không bị tổn thương, học tập, tạo dựng thành tích cá nhân và tránh những trải nghiệm tiêu cực vì bị coi là vô bổ, vô dụng. Thành tố thứ hai của lòng tự trọng là bản lĩnh chịu trách nhiệm cho chính bản thân mình.

Bản lĩnh này được sinh ra từ cảm nhận tích cực về giá trị của bản thân, được nuôi dưỡng trong môi trường gia đình, nhà trường và xã hội. Nền tảng của bản lĩnh được tạo dựng từ môi trường gia đình lành mạnh. Giáo viên có thể tạo dựng môi trường học tập phù hợp để nuôi dưỡng tính chính trực và tinh thần chịu trách nhiệm.

Thành tố thứ ba là hành động một cách có trách nhiệm đối với người khác. Cá nhân tôn trọng sự độc đáo của người khác cũng giống như đánh giá cao giá trị của chính mình. Để đánh giá sự khác biệt của mình với người khác, học sinh phải có cơ sở tự đánh giá vững chắc, mong muốn lắng nghe bạn bè và hành động vì người khác.

Dưới đây là một số cách thức tăng cường lòng tự trọng của học sinh:

– Đặt kỳ vọng cao đối với mọi trẻ và giúp trẻ đạt được kỳ vọng đó;

– Cung cấp cho trẻ những phản hồi tích cực, những kết quả, thành tựu và kỹ năng đã đạt được;

– Luôn giải thích mục tiêu của quy chế, quy tắc, nhiệm vụ và hoạt động học tập; chỉ khi tập trung vào giá trị của hoạt động mới có thể giúp trẻ trải nghiệm sự thoả mãn cá nhân khi thành công;

– Tìm hiểu những gì độc đáo ở từng đứa trẻ và đôi khi cần nhắc đến điều đó khi có sự hiện diện của chúng ở đó. Đánh giá cao cố gắng cũng như thành công của trẻ, giúp chúng chấp nhận những thiếu sót của mình bằng cách tự phân tích thành công và thất bại của bản thân;

– Tuyên dương, ghi nhận những thành công của mọi trẻ, khuyến khích chúng đánh giá hành vi của mình so với mục tiêu;

– Tạo ra môi trường tâm lý an toàn để trẻ thể hiện ý kiến, quan điểm của mình cũng như hành động có trách nhiệm với người khác.

Cùng Danh Mục:

Nội Dung Khác

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *